Blog Archive

KHOA HỌC CÂY KHOAI

FOOD CROP LECTURE

Saturday, February 6, 2021

Chương 5. KỸ THUẬT CANH TÁC KHOAI LANG

 

Chương 5
KỸ THUẬT CANH TÁC KHOAI LANG

5.1 Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh khoai lang .

5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất khoai lang thuần

5.3 VietGAP khoai lang .

5.4 Những thiệt hại chính trên ruộng khoai .

 

5.1  Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh khoai lang (Hoàng Kim 2010)

5.1.1 Giống khoai lang

Lựa chọn giống tốt phù hợp

Giống khoai lang tốt phù hợp có thể tăng năng suất so với giống cũ từ 10-30%  hoặc nhiều hơn. Hiện tại có những giống khoai lang đáp ứng các yêu cầu khác nhau. Tùy theo đặc điểm sinh thái từng địa phương và mục đích sử dụng mà chọn giống tốt phù hợp.

Tiêu chuẩn giống tốt

+ Củ tốt: Chọn củ không sâu bệnh, đều củ, không quá to hoặc quá nhỏ làm giống.

+ Dây giống: Dây bánh tẻ, không sâu bệnh, khỏe, tươi, lá xanh thẫm sinh lý; đốt ngắn; không ra rễ, ra hoa trước khi trồng.

Nhân giống

Nhân giống bằng củ

Nguyên nhân thoái hóa giống: Do trồng bằng dây nhiều thế hệ làm giảm sức sống và đặc tính tốt, do trồng nhiều năm liên tục trên một vùng sinh thái, do lẫn tạp cơ giới và sinh học.

Biện pháp khắc phục: Bình tuyển chọn giống. Lai hữu tính các giống có năng suất cao phẩm chất tốt. Chọn lọc và biện pháp có hiệu quả nhất là nhân giống bằng củ.

Quá trình nhân giống bằng củ bao gồm: Chọn củ: không sâu bệnh, đều, da láng bóng; Xử lý củ bằng nước ấm 54°C trong 10 phút rồi chấm tro bếp và vôi bột ở lát cắt để chống sâu bệnh xâm nhập. Chọn đất ruộng nhân giống phải thoát nước, tơi xốp nhiều màu, tốt nhất là đất cát pha, làm kỹ đất trên tầng mặt, luống rộng 1,2 - l,4m, cao 15 - 20cm. Bổ hốc cách 30cm, bón lót phân chuồng hoai mục 12-15 tấn/ha, lấp lớp đất mỏng rồi mới đặt củ. Lấp đất 3 - 4cm. Sau trồng 20 - 25 ngày mầm ra đều, cần xới và thúc mầm bằng tưới nước tiểu loãng hoặc bón đạm. Khi dây dài 30 - 40 cm cắt dây đem nhân giống. Thúc lần hai bằng nước tiểu hoặc bón đạm, sau thúc 25 ngày cắt dây nhân lần hai rồi lần ba. Dây cắt để nhân 15 - 20cm, chừa gốc lại 10 - 20cm. Thời vụ nhân giống thời vụ trồng mà gơ củ sớm hay muộn.

Nhân giống bằng dây

Phương pháp này đơn giản thường làm ờ ruộng sản xuất, nhưng dễ bị thoái hóa giống nên hai năm gơ dây thì một năm trồng củ. Chọn dây bánh tẻ và dây ngọn không có rễ , nhặt mắt, mập. Ruộng nhân giống tương tự như giống gơ bằng củ.

Nhân giống bằng hạt.

Hạt khoai lang nên được phơi nắng nhẹ trước khi thực hiện các bước tiến hành tiếp theo. Hạt khoai lang có vỏ dầy, nên trước khi nhân giống cần xử lý hạt bằng cách cắt một phần vỏ và ngâm hạt trong nước ấm khoảng 6-12 giờ sau đó ủ hạt và gieo. Đất gieo hạt khoai lang phải là đất giàu mùn, tơi xốp, được lấy ở tầng đất trên mặt, làm nhỏ mịn, loại bỏ đá và sỏi, trộn với phân chuồng hoai mục (không được dùng phân tươi hay hoai dở dang, vì nếu dùng các loại phân đó hạt dễ bị thối), trộn đất và phân với tỉ lệ 1:1, cho vào khay men hay rổ rá đan dày để dễ thoát nước, gieo hạt đã được ngâm nước ấm và ủ hạt, gieo với khoảng cách: 4-5cm/ hạt, tưới nước giữ ẩm thường xuyên và che mát. Thường xuyên kiểm tra hạt gieo và tưới nước giữ ẩm. Khi cây mầm cao khoảng 20 cm, có 4-5 lá hoạt động quang hợp thì đánh cây con ra ruộng nhân giống. Sau đó chăm sóc cây mầm như chăm sóc cây mầm từ củ...

5.1.2 Thời vụ trồng khoai lang .

Nam Bộ và Tây Nguyên:

Đông Nam Bộ: khoai được trồng vụ chính giữa mùa mưa (cuối tháng tháng 7) thu hoạch vào đầu mùa khô (cuối tháng 10) vụ đông xuân, trồng tháng 11 thu hoạch tháng 2, vụ hè thu trồng cuối tháng 4 thu hoạch cuối tháng 7.

Tây Nguyên: Tương tự như vùng Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long khoai lang trồng trên đất lúa sau khi thu lúa mùa

Duyên hải Miền Trung.

Bắc Trung Bộ khi hậu gần giống miền Bắc, nên thời vụ tương tự như ĐBSH

Nam Trung Bộ: tại Thừa Thiên Huế: trên đất cao vụ đông xuân trồng tháng 9 - 10, thu hoạch tháng 1-2; Quảng Nam vụ đông xuân năng suất cao tượng tự Thừa Thiên Huế và vụ xuân trồng tháng 1 thu hoạch tháng 4. Quảng Ngãi và Bình Định đất cát ven sông trồng tháng 11-12, thu hoạch tháng 4.

Đồng bằng sông Hồng và vùng núi phía Bắc

Vụ khoai Thu Đông: Trồng cuối tháng 9 đầu tháng 10 ở đất bãi, sau khi thu hoạch lúa mùa sớm hay trên đất lúa chân cao, ở đồng bằng thu hoạch cuối tháng 2 chậm nhất đầu tháng 3 để kịp cấy lúa xuân hay màu xuân, vụ này năng suất thấp vì sinh trưởng vào thời gian nhiệt độ không thích hợp.

Khoai xuân/ đông xuân: trồng tháng 11-12 thu hoạch lúa mùa chuyển vụ xuân. Trồng sớm cho năng suất cao hơn trông muộn.

Khoai đông: Trồng tháng 9-10, diện tích chủ yếu trên đất sau lúa.

5.1.3 Đất đai và kỹ thuật làm đất.

Khoai lang tuy dễ tính nhưng hiểu biết tính chất đất và có kỹ thuật làm đất phù hợp mới đạt năng suất cao.

Trồng khoai lang luống thấp 8 - 10cm cho năng suất thấp hơn trồng luống trung bình và cao (20 - 25cm), (35 - 40cm) nhưng luống cao hay thắp còn phụ thuộc loại đất. Hiện nay nên trồng luống cao 20 -25cm với đất thịt pha, 30 - 35cm với đất cát và cát pha là phù hợp

Hình 5.1 Luống khọai lang cao 30 - 35cm với đất cát và cát pha là phù hợp

Kỹ thuật lên luống phụ thuộc loại đất, giống khoai, mùa vụ, và tập quán canh tác của từng vùng. Đối với khoai lang đông xuân dài ngày ở miền Bắc vụ thu đông luống nhỏ hơn, đông xuân luống to hơn. Ở miền Trung nông dân làm luống cao trồng mặt luống lồi cao trong vụ đông xuân không để đọng nước trên mặt luống, tránh làm thối dây và củ nhưng vụ hè thu, mặt luống lõm xuống ở giữa (hình chữ V) để giữ ẩm được lâu sau những trận mưa. Khoai lang thu đông sau lúa miền Bắc và hè thu ở miền Trung thường tranh thủ làm đất và lên luống trồng ngay sau khi nước rút đất còn ẩm

Tùy theo đất nặng, nhẹ mà cày nhiều hay ít, không cần làm đất quá nhỏ để không bị bí đất. Khoai lang nên làm đất tốt thiểu dễ năng suất cao. Đất có thành phần cơ giới nặng, cần cày bừa nhiều lần (3 - 4 lần). Đất cát nhiều ở Tỉnh Gia -Thanh Hóa sau khi gặt lúa lốc và đất ráo cày bừa ngay 1 -2 lần, cày lần sau bỏ phân lật 2 bên vào thành luống to, đỉnh luống chừa rãnh để sau tưới nước phân. Đất sét pha (Triệu Sơn Thanh Hóa) sau gặt lúa cũng cày bừa 2 - 3 lần nhưng không cày thành luống, mà cào luống ở  phía bắc cao hơn để tránh gió mùa hay gió tây. Đất thịt nặng phải làm kỹ hơn, cày vạt nhỏ, đường nhỏ cho đất nhanh ải, sau khi đất khô trắng thì đập nhỏ, sau bừa lại sang bằng giữ ẩm và lên luống có nơi vạt rộng l,5m.

Kỹ thuật trồng khoai trên nền đất ướt thịt nặng. Nếu gặp mưa muộn kéo dài, sau khi gặt nước còn xăm xắp cày luôn cho dễ và lên luống khoảng 8 xá cày, dùng tay bốc hai sá giữa đặt ghếch lên nhau làm chân luống, sá 3 -4 thì dằm ra để lên trên rồi đổ phân đặt dây, cuối củng bốc nốt 2 sá để giữ dây. Luống cao độ 40cm chăm sóc như khoai chiêm. Chú ý không nén đất, không dẫm chân lên luống, nếu ẩm đất quá cao với thời gian dài cần xả luống, năng suất khoai lang cao. Ở Nghệ Tĩnh kinh nghiệm trồng khoai lang khá độc đáo, cày sớm vào tháng 8 sau mưa, khi nắng ráo cày luống l,4m, phơi ải 5 - 7 ngày, cày bừa 2 - 3 lần thêm đất nhỏ lên luống, độn phân xanh ở giữa, kéo đất to vào giữa luống và đất nhỏ ra ngoài, ép hai bên cho nhọn vồng như kiểu mái nhà để thoát nước, làm xong tủ rạ lấy đất to dằn lên để khỏi bị gió bay, 1 ha ủ 5 - 6 tấn rạ để vậy đến khi có mưa đủ ngấm mới đặt dây (khi trồng lấy rạ ra), trước khi đặt dây xới nhẹ bón phân lên đỉnh vồng luống, phủ rạ như củ giữ thân luống không bị mưa xói, rữa trôi khi mưa lớn và giữ ẩm khi nắng to, đỡ tổn công làm cỏ và nhắc dây. Chú ý: Khi đặt dây không ấn mạnh tay quá và không dẩm vào đỉnh vồng luống để đất ngấm nước dễ bị dí xuống.

Kỹ thuật làm đất khoai lang vùng cát ven biển Trung Bộ. Để trồng khoai lang kịp thời vụ cần tháo nước làm cho đất khô nhanh, đất vừa ẩm cày 1 - 2 lần, độ sâu 12 - 15 cm, bừa một lần rồi kéo luống, bón lót luống rộng 1 - l,4m, cao 30 - 50cm, khoảng cách giữa hai luống 60cm làm rãnh.

Kỹ thuật làm đất vùng đất mặn nhiều mùn Đồng bằng sông Cửu Long (Hậu Giang), trên đất lúa mùa mưa, sau khi gặt lúa mùa tháng 2 thì dọn rạ đợi đất khô, lên luống trồng khoai không cày bừa mà phát gốc cỏ, rạ bằng dao (dùng xẻng lật đất lên luống rồi trồng khoai. Đất ướt do dẫn nước vào nên sử dụng xẻng được, khi đất khô dần và ải ra, thỉnh thoảng cho nước vào và té nước lên tưới khoai, đất ải sẽ bở tơi ra.

5.1.4 Bón phân.

Liều lượng phân bón.

Chang (Đài Loan) khuyến cáo bón phân cho khoai lang 30 - 90kg N + 25 - 30kg P2O5 + 80 - 200kg K2O/ha. Landua khuyên nên dùng 600 kg phân hỗn hợp NPK tỷ lệ 8: 8 : 16/ha. Theo Trần Văn Minh 2008, nên sử dụng các loại phân hữu cơ bón cho khoai lang như phân chuồng, phân rác, phân xanh, khô dầu. Phân chuồng 10-15 tấn /ha (phân tươi tác dụng tốt hơn phân hoai mục). Phân xanh, cỏ lào, keo đậu, bèo dâu, cốt khí, rong rêu . Ở miền Trung cỏn dùng lá sim mua + phân xanh + phân chuồng độn vào giữa luống, lúc lên luống rắc phân lấp đất, rắc khô dầu đậu sau đó sửa lại luống rồi trồng.

Lượng bón phân hoá học: 60 - 90N + 30-40 p205 + 80 - 200 K20 kg/ha

Cách bón

Bón lót: toàn bộ phân chuồng, phân xanh, toàn bộ lân . Bón thúc hai lần. Lần 1 lúc 15-20 ngày sau trồng 1/3 N+1/3 K20 và tưới thêm nước phân chuồng tươi; Lần 2 lúc 30-40 ngày sau trồng lượng phân còn lại: 1/3N + 2/3 K20 + khô dầu đậu / phân bắc hoai mục (nếu có)

Kinh nghiện bón phân cho khoai lang ở một số vùng : Tại Nghệ Tĩnh, nông dân bón lót 6 - 20 tấn phân hữu cơ (1/3 phân chuồng và 2/3 phân xanh) + 80 - 100 kg sunphát đạm + 40 - 60kg K20 trồng khoai xong tủ gốc, về mùa mưa không bón phân thúc. Tại Thăng Bình Quảng Nam phân lót là phân xanh, rơm rạ, lá, rong, bèo dâu, phân chuồng với lượng 10-20 tẩn/ha, phân hóa học 60kg ure + 60 - 80 kg Kali (không có Kali bón 2 - 3 tạ tro bếp) + 20 kg lân. Thúc sau trồng 35 - 40 ngày, cày xã bón phân chuồng hoai mục + khô dầu + tro ủ ba ngày + phân hóa học, địa phương gọi là rà phân mép hay nhữ rễ sau 10 ngày nữa rà mép bên kia, liều lượng cả 2 lần 50kg cho một luống dài 20 mét.

Hình 5.2: Canh tác khoai lang ở Thăng Binh , Quảng Nam

Bón phân thúc lên lá: dùng super lân và kali sunphat pha nồng độ: 3 - 5% tăng năng suất và phẩm chất củ tốt, bón 2 lần khi khoai phân hóa củ.

5.1.5 Mật độ và kỹ thuật trồng.

Mật độ

*     Giống dài ngày/ đất tốt, khả năng đầu tư phân bón cao: 4 -4,5 vạn dây/ha.

*     Giống TGST trung bình, mức đầu tư trung bình, mật độ 4,5 -5,5 vạn dây/ha.

*    Giống ngắn ngày và cực ngắn, đất xấu, đất cát nhiều, ít phân bón: 5,5 - 6,0 vạn dây/ha.

Kỹ thuật trồng

Trồng kiểu phẳng dọc luống (nông dây dọc luống). Trường hợp đất cát pha không bị hạn, lên luống xong rạch giữa luống rồi bón phân lấp đất, đặt dây đến đâu  lấp đất đến đó nén để giữ ẩm. Ở miền Bắc vụ đông, rạch hàng theo hướng Đông - Tây tránh gió mùa đông bắc. Ở miền Trung, vụ đông xuân, đặt ngọn chếch theo hướng phía tây, củ phát triển phía đông đỡ bị nắng không bị sùng hà. Đầu dây đặt về một phía, như vậy củ mới đều và không bị ngắt quảng. Ở miền Nam phương pháp này khá phổ biến với nhiều ưu điểm, vì đoạn dây nằm ở tầng đất thích hợp cho điều kiện nhiệt độ đất, cho hoạt động của tượng tầng củ nhiều và to, đặt dây này sát dây kia nhiều củ. Một số địa phương trên đất tốt đặt dây theo lối hàng kép, trọng lượng củ không cao nhưng số củ nhiều, năng suất cao hơn trồng đơn.

Đặt dây đứng: Bổ hốc sâu 2 - 3cm rồi cắm dây đứng đều. Phổ biến ở Việt Nam là vùng Duyên hải Miền Trung, trên đất cát với những dây khoai cắt ngắn và áp dụng nhiều ờ các nước ôn đới trồng bằng cây con tách từ củ. Phương pháp này đỡ tốn công, ít chăm sóc, ít phân nhưng ít củ.

Phương pháp áp tường: Vừa trồng vừa lên luống làm một bên luống đặt dây ở giữa, bên kia cho đất lên vừa để lấp dây vừa làm cốt luống. Tốn ít công, khoai bị vùi sâu, nhiều rễ không tận dụng được nhiều dinh dưỡng, củ nhỏ, năng suất thấp.

Trồng kiểu đáy thuyền, lượn sóng (Hà Nam Ninh) có nhược điểm củ ra không đều ở các vị trí, thu hoạch dễ bị sót củ.

Trồng chữ V: khó chăm sóc.

Kiểu khuy áo: Sau khi lên luống xong đánh một rãnh dọc luống, bón phân đặt dây theo chiều dọc luống, gốc và ngọn chụm lại như khuy áo, lấp đất và ấn chặt 2 chỗ đầu dây thò lên, hai ngọn cách nhau 15cm phương pháp này làm khoai nhanh bén rễ củ to, nhiều củ.

Phương pháp ốp leng (đất thịt nặng/ sét): Sau khi lên luống (ốp luống), dùng leng (xẻng) khía sâu một rãnh, ở giữa sâu 3 - 4cm, bón phân đặt dây, dây dài 40 – 50 cm đầu dây cắm vào rãnh để một đầu chừa lên 1/ 4 - 1/3 dây ở dưới dây này chờm lên dây kia 1/3 dây sẽ có củ nhiều.

5.1.6 Chăm sóc

Làm cỏ và vun

Khoai lang được làm cỏ và có vun năng suất tăng gấp 1,5-3 lần so với đối chứng, số lần làm cỏ phụ thuộc cỏ dại ở ruộng, thường làm trước khi khoai phủ luống 50 - 60 ngày sau trồng. Phương pháp: Sau trồng 15-17 ngày, sau khi dây đã bén rễ làm cỏ vun lần 1, dùng cào kéo đất lên cổ dây tránh rét vụ đông xuân, ở Miền bắc khi đó cỏ non mới mọc dễ làm, không nên cào sâu quá 5 - 6cm sẽ động đến rễ, nếu cỏ nhiều thi vài tuần sau làm lại có thể sâu hơn. Sau trồng 30 - 35 ngày khoai tốt, nên cuốc 2 bên sườn luống để phơi cỏ vài hôm rồi vun lại, nếu là đất cát pha cày xả sát vào 2 bên sườn luống kết hợp bón thúc rồi áp đất vào. Trước khi vun bắt dây dọc luống tránh đứt dây. Khi khoai tốt, cách lần trước 15 ngày làm cỏ vun lần nữa kéo thêm đất và để luống to (đất thịt nặng cày xã thêm lần nữa tạo độ tơi xốp bón rãnh). Không cuốc sâu động đến củ. Trung bình làm cỏ vun gốc 3 lần.

Bấm ngọn và nhấc dây

Bấm ngọn : Chậm ít tác dụng đôi khi làm giảm mục đích điều hòa sinh trưởng của dây, thúc đẩy nhánh phát triển sớm cần bấm đúng lúc. Giống ngắn ngày bấm ngọn sau trồng 30 - 35 ngày. Giống dài ngày: bấm ngọn sau trồng 40 - 45 ngày cùng lúc với cày xã bón thúc.

Nhấc dây: Hạn chế rễ con tập trung dinh dưỡng cho củ, nhấc dây không lật ngược dây lên luống, mà chi nhấc lên cho đứt rễ rồi để lại chỗ củ, rãi dây cho đều chỉ dây ở rãnh mới để dọc theo luống, tủ luống bằng rạ lúa hay cỏ khô cho dây lang leo lên, không cân nhấc dây củ nhiều.

Tưới nước

Khoai lang cần nước, thời gian cần cho sinh trưởng 2- 3 tuần đầu. Tưới nước chủ yếu từ khi trồng đến khi phủ kín mặt luống, không nên tưới vào giai đoạn sau. Tưới lần 1: sau trồng 7-10 ngày tưới thấm cho nước chảy và các rãnh ngập 1/3 luống, khi thấm đều thì tháo nước ra không để nước đọng ở rãnh. Lần 2 cùng với cày xã luống giống như lần 1. Sau trồng 35 -45 ngày tưới và dùng gàu múc tưới nước lên mặt luống và rút hết nước (lần này tưới nhiều hơn).

Luân, xen canh

 Luân canh:  Ở Miền Bắc ở ruộng hai vụ khoai lang đông xuân - lúa mùa; ở ruộng ba vụ khoai lang đông - lúa xuân - lúa mùa sớm. Ở Nghệ Tĩnh khoai thu đông / đông - lúa đông xuân - khoai hè thu. Duyên hải Trung Bộ khoai lang xuân hè - lúa mùa. Đông Nam Bộ ngô đậu hè thu - khoai lang thu đông, lúa mùa - khoai lang đông xuân; khoai lang xuân hè - lúa thu; Đồng bằng Sông Cửu Long khoai lang xuân hè - lúa thu hay màu muộn.

Xen canh: khoai xen ngô, đậu xanh, lạc.

5.1.7 Sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

²  u

*     Sâu sa (Herse convolvuli)

-      Hình thái ngài: thân dài 45 - 50mm, sải cánh : 100 - 120mm, màu vàng nhạt, trứng tròn.

-       Hình thái sâu non (5 tuổi) màu xanh hoặc nâu, tuổi 1 dài l cm, tuổi 5 dài 7 cm, trên lưng đốt 8 có một gai nhỏ. Sâu đẩy sức hóa nhộng dài 5 - 6 cm, màu cánh dán, có vòi uốn cong lồi ra phía ngoài. Vụ Đông xuân, sâu sa màu đen, xanh trên lưng có vạch ngang màu vàng đen, hai bên sườn có nốt tròn đen hay vàng, ở đuôi có sừng, ăn lá nhiều cả ngày đêm.

-       Sinh học: sâu sa giao phối đè trứng rãi rác dưới mặt lá, ngài thích ánh sáng đèn. Sâu non ăn mô lá, cắn khuyết các gân lá chính, phá hoại với thời gian rất nhanh, sâu non sống thành đàn, ăn vạt cắn đứt lá.

-      Phòng trừ (IPM), sử dụng Monitor 50, 60, 70ND (khi thành dịch). Phòng trừ: làm đất xử lý để diệt nhộng, nhiều thì bắt ngay, gom cỏ rác đốt vì sâu xám hay ăn bả. Dùng thuốc trừ sâu sa tuổi nhỏ Basudin 10H.

* Bọ Hà (Cylas formicarius Fabricius):

-       Hình thái: Sâu trưởng thành nhỏ (4,8 - 7,9mm), cánh xanh lục bóng, đầu, ngực và 3 đôi chân màu nâu đỏ. Đốt cuối của râu: con đực hình ống, con cái hình bầu dục, trứng hình bầu dục có màu trắng sữa hoặc nâu vàng. Sâu non 5 tuổi: tuổi 1 dài 1 mm, tuổi 5 dài 5 - 8mm, hình ông nhỏ, hai đầu thon nhỏ, màu trắng sữa, đầu nâu nhạt. Nhộng trần dài 5 -6 mm màu trắng sữa.

-       Sinh học: Thuộc bộ cánh cứng, đục gốc cây và củ, đẻ trứng vào lỗ đục, phân của nó phủ vào trứng để giữ ẩm cho trứng, nở ở nhiệt độ 27°C. Bọ hà phát triển mạnh ở nhiệt độ 35 - 37°C, ẩm độ 65%, sau đẻ trứng 8 ngày, sâu hà có thể làm giảm năng suất 50%. Nhiệt độ thích hợp cho bọ hà 20°C trở lên, dưới 20°C có trờ ngại, khi không có khoai nó cũng sống được ở một số cây khác. Thiên địch chính của Bọ hà Microbracon millitor, M. punctatus... và một số loại nấm bệnh.

-      Phòng trừ:

+ Chọn lọc và bảo quản sát trùng giống, có chế độ luân canh hợp lý, thu hoạch kịp thời không để vào lúc trời nắng gắt, gió tây thổi, luống to đủ ẩm hạn chế bọ hà.

+ Trồng đúng thời vụ.

+  Dùng chất dẫn dụ bằng Pheromon sinh học, lát khoai để dẫn dụ tiêu diệt.

+ Kiểm dịch thực vật: kiểm tra dây khoai lang trước khi trồng, kiểm tra củ làm giống.

+ Biện pháp hóa học: Rắc thuốc bột Padan 4G, 10G lượng 0.3 - 0,4kg/300m2.

²  Bệnh

*      Héo lá thân: Do nấm Fusarium oxysporum batatit, dùng validacin 300, bệnh này có nơi hại 50% số cây, nấm này thường để lại trên củ tươi khi bảo quản hoặc tồn tại trong đất thời gian dài, thích hợp ờ nhiệt độ 30 - 38°C, tỷ lệ bệnh lớn khi ẩm độ 88 - 100% phá hại bên trong bó mạch gỗ.

Phòng trừ:  Chọn giống khi thu hoạch, đối với cây bị bệnh sát trùng củ khi trồng, luân canh khoai với cây trồng khác, trừ bông, thuốc lá, cà chua, dưa sử dụng giống có tính chống chịu.

*      Bệnh thối đen rễ: Do nấm Endoconidiaphon finiciata davidson, bệnh phát triển mạnh ờ nhiệt độ 15 - 30°C trên 35°C ít phát triển, ẩm độ tối thích 60%, cây bị bệnh chuyển màu đen, củ màu xanh ăn có vị đắng. Phòng trừ: Trồng giống có sức chống chịu cao (B52, Allgod) không nên dùng cây mầm vì dễ bị bệnh này, nên dùng hom.

*      Bệnh xoắn lá : Bệnh loang lỗ, cây bị lùn, lá có đốm nhăn nheo, ít củ, nó là một dòng với siêu vi trùng thuốc lá. Phòng trừ. Chủ yếu khi chọn giống không lấy cây bị bệnh, đất xử lý vôi bột.

*      Bệnh thối củ: Bệnh này phá hoại nghiêm trọng vào lúc thu hoạch và sau thu hoạch, lúc bảo quản do nấm xâm nhập qua những vết thương. Phòng trừ: thu hoạch tránh xây xát, bảo quản nơi thoáng mát, sát trùng nơi bảo quản.

Ngoài ra còn các bệnh hại khác như: khô ruột, đốm lá, vàng lụi.

5. 1.8 Thu hoạch

Ở Việt Nam, thu hoạch củ lúc lá dưới thân đã vàng và lục khoai có hàm lượng tinh bột cao nhất, dùng một củ lấy dao sắc cắt thấy vết cắt nhaiíh khô và không đen là thu hoạch được. Chọn ngày nắng ráo, trời nắng để thu hoạch hết một lần. Khi thu hoạch chú ý nguyên cũ, ít xây xát, không xếp thành đống quá cao. Củ bị tổn thương cơ giới, hô hấp mạnh, tiêu hao dinh dưỡng và dễ bị thối.

 

5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất khoai lang thuần

5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ khoai lang lai

5.4 VietGAP khoai lang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2 comments:

  1. Câu 18: Sâu hại chính trên khoai lang?
    A. Bọ hà
    B. B. Sâu xanh
    C. Sâu khoang
    D. Bọ Trĩ

    Đáp án: A

    ReplyDelete
  2. Câu 21: Cách nào sau đây có thể bảo quản được khoai lang?
    A. Ủ cát khô
    B. Bảo quản trong kho
    C. Phơi khô
    D. Cả A, B, C đều đúng

    Đáp án:D

    ReplyDelete