Chương 1
VỊ
TRÍ KINH TẾ CÂY KHOAI LANG
1.1 Tầm quan trọng của khoai lang trên thế giới và Việt Nam
1.2 Sản xuất, tiêu thụ khoai lang trên thế giới và Việt Nam
1.3 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của khoai lang
1.4
Nguồn gốc, phân
loại, vùng phân bố, lịch sử phát triển .
1.1 Tầm quan trọng của khoai lang trên thế giới và Việt Nam
Cây khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Lam.) là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Cây khoai lang thích hợp với nhiều vùng sinh thái tại Việt Nam và là loại cây trồng có nhiều giá trị cả thân lẫn củ.
1.2 Sản xuất, tiêu thụ khoai lang trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới
(Hoàng Kim 2010)
Trên thế giới, khoai lang là cây lương thực đứng hàng thứ bảy sau lúa mì, lúa nước, ngô, khoai tây, lúa mạch, sắn. Năm 2018, toàn thế giới có 118 nước trồng khoai lang trên tổng diện tích 8,06 triệu ha, trong đó châu Phi chiếm 57,07%, châu Á chiếm 36,72%, châu Mỹ chiếm 4,3%. Năng suất bình quân năm 2018 của thế giới 11,40 tấn/ha, châu Á có năng suất bình quân cao nhất 20,53 tấn/ha, châu Mỹ có năng suất bình quân 12,15 tấn/ha, còn châu Phi chỉ có năng suất bình quân 5,65 tấn/ha. (Bảng 1.1)
Do diện tích khoai lang trên thế giới có xu hướng giảm cũng như năng suất cũng có xu hướng giảm nên sản lượng trồng khoai lang trên thế giới cũng giảm. Từ 142,67 triệu tấn (2000) xuống còn 91,95 triệu tấn (2018). Trong đó châu Á cung cấp sản lượng khoảng 66,03%, châu Phi cung cấp sản lượng khoảng 28,28%.
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai lang trên Thế giới và Việt Nam (2000 – 2018).
Năm 2018, Châu Á cung cấp 66,03% tổng sản lượng khoai lang của thế giới, trong đó Trung Quốc đứng đầu chiếm 87,30% sản lượng toàn cầu. 10 nước có sản lượng khoai lang nhiều nhất thế giới gồm Trung Quốc (53,01 triệu tấn); Malawi (5,67 triệu tấn); Nigeria (4,03 triệu tấn); Tanzania (3,83 triệu tấn), Ethiopia (1,83 triệu tấn), Indonesia (1,81 triệu tấn), Uganda (1,53 triệu tấn), India (1,40 triệu tấn), Việt Nam (1,37 triệu tấn), Angola (1,27 triệu tấn)
12 nước có diện tích trồng khoai lang nhiều nhất thế giới năm 2018 là Trung Quốc (2,37 triệu ha); Nigeria (1,71 triệu ha), Tanzania (0,77 triệu ha), Uganda (0,36 triệu ha), Malawi (0,28 triệu ha), Ethiopia (0,22 triệu ha), Angola (0,20 triệu ha), Rwanda (0,18 triệu ha), New Guinea (0,14 triệu ha), Madagascar (0,14 triệu ha), India (0,12 triệu ha), Việt Nam (0,12 triệu ha)
Bảng 1.2 Năm quốc gia có
diện tích khoai lang đứng đầu thế giới năm 2018.
15 nước có năng suất khoai lang cao nhất thế giới năm 2018 là Senegal (40,41tấn/ha), Australia (36,42 tấn/ha), Egypt (33,57 tấn/ha), Réunion (32,14 tấn/ha), Cook Islands (27,45 tấn/ha), Portugal (25,42 tấn/ha), Spain (25,37 tấn/ha), Niger (25,22 tấn/ha), Palestine (24,90 tấn/ha), Đài Loan (24,17 tấn/ha), Barbados (23,33 tấn/ha), Greece (23,12 tấn/ha), Trung Quốc (22,37 tấn/ha), Nhật Bản (22,31 tấn/ha). Việt Nam đứng thứ 45 về năng suất khoai lang (11,66 tấn/ha) nên việc cải thiện năng suất khoai lang vẫn là vấn đề quan trọng cần nghiên cứu lâu dài.
Khoai lang là một trong năm cây lấy củ chính (bao gồm: sắn, khoai tây, khoai sọ, khoai lang, khoai mỡ), nếu không tính đến cây khoai tây (cây có củ vùng ôn đới) thì khoai lang là cây có củ đứng sau sắn ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
Nguyên nhân khiến tình trạng sản xuất khoai lang trên thế giới năng suất giảm là do năng suất, chất lượng khoai chưa được cải thiện, mặt khác trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, người nông dân đã lựa chọn những cây trồng có hiệu quả kinh tế để đầu tư thâm canh.
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng chính trên Thế giới năm 2017
1.2.2 Tình hình sản xuất khoai lang ở Việt Nam
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng bốn cây lương thực chính
của Việt Nam
Sản xuất khoai lang ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành ở hộ nông dân, nói chung tự sản xuất tiêu thụ là chính. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2019 ở Việt Nam, khoai lang là cây lương thực đứng hàng thứ tư sau lúa, ngô và sắn. Khoai lang là cây hàng năm dễ trồng, chi phí đầu tư thấp và thích hợp với nhiều loại đất, rất phù hợp với điều kiện canh tác của nông dân Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Gia Lai, Đắk lak, Đắk Nông, Lâm Đồng và một số vùng núi phía Bắc.
Theo bảng 1.5, số liệu thống kê diện tích trồng khoai lang cả nước ta năm 2017 là 121,8 nghìn ha, thấp hơn năm 2013 (135,0 nghìn ha), năm 2014 (130,1 nghìn ha), năm 2015 (127,6 nghìn ha) nhưng cao hơn năm 2016 (120,3 nghìn ha). Năm 2017, khoai lang được trồng nhiều nhất tại khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc (31,4 nghìn ha), kế tiếp là Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung (30,2 nghìn ha), Tây Nguyên (17,8 nghìn ha), Đồng bằng sông Hồng (17,4 nghìn ha), Đông Nam Bộ (1,4 nghìn ha). Như vậy, phần trăm diện tích khoai lang tại vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung (24,79%), Trung du và miền núi phía Bắc (25,78%), đồng bằng sông Hồng (14,29%), Tây Nguyên (14,61%), Đồng bằng sông Cửu Long (19,38%)
Theo bảng 1.6, sản lượng khoai lang nhiều nhất tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (40,15%), kế đến là Trung du và miền núi phía Bắc (15,99%), Tây Nguyên (15,68%), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (14,88%), Đồng bằng sông Hồng (12,57%)
Bảng 1.5 Diện tích khoai lang phân theo địa phương
(nghìn ha)
Ngoài ra còn vùng Đông Nam Bộ năm 2017 diện tích chỉ có 1,4 nghìn ha, sản lượng đạt 9,4 nghìn tấn.
Bảng 1.6 Sản lượng khoai lang phân theo địa phương (nghìn tấn)
Đất trồng khoai lang chủ yếu là đất xám bạc màu nghèo dinh dưỡng, không chủ động nước tưới của vụ Đông và vụ Đông Xuân trong cơ cấu luân canh với lúa. Năng suất khoai lang đạt được cao nhất 17-30 tấn/ ha ở đất phù sa được bồi ven sông Tiền, sông Hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long, kế đến là vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Nguyên đạt 8-20 tấn/ha, những nơi khác năng suất khoai lang đạt thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do: thiếu chế biến và thị trường tiêu thụ; giống tạp lẫn và thoái hóa; đất trồng khoai thường nghèo dinh dưỡng; sự gây hại của sùng (Cylas formicarius sp) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis); khoai lang ít lợi thế canh tranh nên chưa được quan tâm đúng mức trong nghiên cứu phát triển. Diện tích và sản lượng khoai lang Việt Nam có chiều hướng giảm trong những năm gần đây (Hoàng Kim và Nguyễn Thị Thủy, 2006).
10 tỉnh có diện tích trồng khoai lang nhiều nhất Việt Nam năm 2017 là Vĩnh Long (13,8 ngàn ha), Thanh Hóa (7,5 ngàn ha), Đắk Nông (7,0 ngàn ha), Đắk Lắk (5,8 ngàn ha), Bắc Giang (5,5 ngàn ha), Hòa Bình (4,8 ngàn ha), Thái Nguyên (4,3 ngàn ha), Hà Tĩnh (4,2 ngàn ha), Nghệ An (4,1 ngàn ha), Đồng Tháp (3,8 ngàn ha). (Bảng 1.8)
Bảng 1.8 Top 10 tỉnh có diện tích (1.000 ha) trồng khoai lang nhiều
nhất Việt Nam
10 tỉnh có sản lượng cung cấp khoai lang nhiều nhất Việt Nam năm 2017 là Vĩnh Long (358,0 ngàn tấn), Đồng Tháp (94,3 ngàn tấn), Đắk Nông (87,1 ngàn tấn), Đắk Lắk (69,7 ngàn tấn), Bắc Giang (60,7 ngàn tấn), Thanh Hóa (53,5 ngàn tấn), Thái Bình (53,4 ngàn tấn), Hà Nội (33,4 ngàn tấn), Lâm Đồng (32,4 ngàn tấn), Kiên Giang (32,1 ngàn tấn)
Bảng 1.8 Top 10 tỉnh có sản lượng (1.000 tấn) trồng khoai lang nhiều nhất Việt Nam
1.3 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của khoai lang
(Hoàng Kim 2010)
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Khoai lang có sản phẩm thu hoạch chính là củ, chủ yếu dùng làm lương thực cho người, thức ăn chăn nuôi và dùng để chế biến tinh bột, rượu, cồn, xirô, nước giải khát giàu dinh dưỡng, bánh kẹo, mì, miến, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học (bioplastic). Khoai lang có khối lượng đường bột (hydrate carbon), vitamin A và năng lượng trên một hecta cao hơn lúa mì, lúa nước, sắn. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của khoai lang so với sắn củ tươi (phần ăn được), khoai tây và khoai môn được thể hiện rõ ở Bảng 1.9
Thành phần dinh dưỡng chính của khoai lang là đường bột, ngoài ra còn có protein, các vitamin và chất khoáng. Trong 100g củ tươi có 30 - 40 gam chất khô. 100 g chất khô có 28 - 30g đường bột (tỷ lệ 30%), đường bột có dạng gluco, manto, dextrin, tinh bột. Vì vậy khoai lang được xem như nguồn cung cấp calo là chính, nó cho năng lượng hơn khoai tây (113 calo/100g củ). Tinh bột khoai lang chuyển hóa thành đường nên cất giữ dài ngày khoai càng ngọt, 0,5% lipit và có các sinh tố quan trọng khác như vitamin C, A, B1, B2. Hàm lượng caroten nhiều dễ tổng hợp vitamin A, có nhiều ờ các giống có thịt củ màu đỏ, vàng, vàng đỏ nên ăn nhiều khoai lang sẽ tốt cho mắt và gan. Hàm lượng caroten thay đổi ngay trên một củ, đầu củ > giữa củ > cuống củ. Lượng protein thấp: Có 2% protein ở dạng dễ đồng hóa. Khoai lang còn có nhiều axit amin quan trọng, đủ 18 loại thường và 8 loại không thay thế.
Bảng 1.9 Thành phần hóa học và giá trị
dinh dưỡng của sắn củ tươi (phần ăn được) so với khoai lang, khoai tây và khoai
môn.
Thành phần hóa học trong 100g củ khoai lang tươi (Bảng 1.10) có 68g nước, 28,5g glucid (24,5g tinh bột, 4g glucoza) cung cấp cho cơ thể 119 kcal, 1,3g xenluloza, 0,8g protid, 0,2g lipid. Ngoài ra trong khoai lang tươi còn có nhiều vitamin và muối khoáng (34mg canxi, 49,4g photpho, 1mg sắt, 0,3mg caroten, 0,05mg vitamin B1, 0,05mg vitamin B2, 0,6mg vitamin PP, 23mg vitamin C). Khi phơi khô, rút gần hết nước, giá trị dinh dưỡng của khoai tăng hơn nhiều. Trong 100g khoai lang khô có 80g glucid cung cấp 342 kcal, 11g nước, 3,6g xenluloza, 2,2g protid, 0,5 lipid.
Các chỉ tiêu chính đánh giá chất lượng củ khoai lang:
Chất khô: Hàm lượng chất khô trung bình gần 30%. Tuy nhiên độ biến động phụ thuộc vào các yếu tố như giống, nơi trồng ( đất), khí hậu, độ dài ngày, tỷ lệ sâu bệnh, kỹ thuật trồng trọt ... Ở các nước khác nhau, chất khô củ khoai lang có khác nhau. Ví dụ: Brazil chất khô:22,2 - 48,2% (Cereda 1982); Đài Loan: 13,6 - 35,1% (Anon, 1981); Việt Nam: 9,2 - 33,6% (Ngô Xuân Mạnh, Đinh Thể Lộc, Nguyễn Đăng Hùng, 1994).
Gluxit: Là thành phần chủ yếu của chất khô chiếm khoảng 80 - 90% hàm . lượng khô (trong khi đó chất khô chiếm 24 - 27% trọng lượng tươi). Thành phần gluxit chủ yếu là tinh bột, đường và một số chất khác như peptin, cellulose, hemicellulose... Thành phần tương đối của gluxit biến động không những phụ thuộc vào giống và độ chín của củ, mà còn phụ thuộc vào thời gian bảo quản, chế biến, và có ảnh hưởng đáng kể đến các yếu tố chất lượng như độ cứng, độ khô, cảm giác ngon miệng và hương vị.
Tinh bột: chiếm khoảng 60 - 70% chất khô, nhưng tỷ lệ tinh bột so với các hợp chất gluxit khác biến động lớn. Giống có ảnh hưởng đến hàm lượng tinh bột: Brazil: Trong số 18 giống có hàm lượng tinh bột biến động 42,6 - 78,6% so với trọng lượng khô (Cereda,1982); Philippin và Mỹ: 33,2 - 72,9% (Bierman và Marllet, 1986). Việt Nam: 16,6 - 17,48% (Ngô Xuân Mạnh, 1994).
Đường: Sự biến động hàm lượng đường tổng số từ 0,38 - 5,64% trọng lượng củ tươi. Ở Việt Nam: 3,63 - 6,77% (Ngô Xuân Mạnh, 1994). Nhiều tác giả cho rằng: yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến hàm lượng đường trong củ khoai lang là yếu tố giống. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của thời gian thu hoạch, bảo quản. Thành phần đường trong củ tươi chủ yếu là đường saccharose, glucose, fructose. Ở một số giống hoặc trong quá trình bảo quản còn chứa thêm một lượng đường mantose.
Xơ dễ tiêu: Xơ dễ tiêu đóng vai trò quan trọng chống bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú, đái đường, tim mạch. Xơ dễ tiêu bao gỗm các hợp chất pectin, cellulose và hemicellulose, ngoài ra còn chứa lignin 0,4% (TLTC). Hàm lượng xơ dễ tiêu cho khoai lang chiếm khoảng 3,6 - 4% (TLTC).
Protein: Trung bình chiếm 5% trọng lượng khô (hay 1,5% trọng lượng tươi) thành phần protein chính trong khoai lang là sporamin (chiếm 80% protein hòa tan) ở 2 dạng sporamin A và B. Tuy hàm lượng protein thô này không cao nhưng do năng suất củ cao, cho nên protein thu được trên một đơn vị trồng trọt là đáng kể không thua kém các hạt ngũ cốc
1.3.2 Giá trị sử dụng
Phần lớn các nước trồng khoai lang trên thế giới là các nước đang phát triển ở châu Á. châu Phi và châu Mỹ la tinh. Vì vậy khoai lang chủ yếu là dùng làm lượng thực cho người và gia súc.
Làm lương thực và thực phẩm
Tất cả các nước đều sử dụng khoai lang dùng ăn tươi hay chế biến vì mục đích lương thực.
Khoai lang nghiền nhừ: khoai lang được luộc hay hấp chín, sau đó nghiền nhừ nhồi với sản phẩm khác chế biến bánh. Ở Việt nam phương pháp này sử dụng phổ biến (đặc biệt Miền trung trộn với bột lọc làm bánh lọc ăn rất dòn. Ở Nhật, khoai lang nghiền nhừ là một món ăn tráng miệng.
Sản phẩm đóng hộp: Phổ cập trong tiêu dùng ờ Mỹ, Úc, Đài Loan. khoai lang được đóng hộp nguyên củ, cắt rời thành khoanh trong môi trường đông đặc. Chất lượng củ khoai lang là điều quan tâm nhất trong sản phẩm đóng hộp. Nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố như giống, điều kiện trồng trọt, kỹ thuật xử lý, bảo quản chế biến.
Các loại bánh kẹo, mứt và đồ ngọt khác: Mứt và các đồ ngọt khác như “doces” của Bồ Đào Nha và “dulce” của Tây Ban Nha rất phổ biến ở Châu Mỹ La tinh. Sản phẩm mứt ướt của người Phi. Mứt ướt khoai lang được chọn màu sắc tự nhiên như vàng, da cam, hồng nhạt... (Sheng và Wang, 1987). Ở Việt Nam mứt khoai lang được sản xuất và bán vào các dịp lễ, tết.
Bột khoai lang: Bột khoai lang được sử dụng làm các sản phẩm bánh giống như bánh mì, bánh ngọt, kẹo. Kẹo có chứa nhiều bột khoai lang ăn dòn. Nước sản xuất nhiều bột khoai lang nhất là Trung Quốc, (khoảng 15 - 20% sản phẩm khoai lang được chế biến thành tinh bột) với sản lượng hàng năm lên tới 300 nghìn tấn (Wang, 1984). Việt Nam củ khoai được gọt vỏ thái thành lát mỏng và phơi khô dưới ánh sáng mặt trời hoặc lò sấy, sau đó được chế biến thành bột hoặc để nguyên lát tùy mục đích sử dụng của từng địa phương.
Các cách chế biến khác từ khoai lang: Khoai chiên với chuối sau khi trộn bột bánh mì...
Làm thức ăn gia súc:
Củ khoai lang: Giống như bột ngô và bột củ sắn, củ khoai lang cũng là loại thức ăn tinh bột sẵn có ở nhiều vùng tại Việt Nam, có hàm lượng năng lượng cao. Tuy nhiên nó có hàm lượng đạm thấp, nên cần phải bổ sung đạm vào khẩu phần chế biến thức ăn cho vật nuôi.
Củ khoai lang rất khó bảo quản để sử dụng lâu, dễ bị thối và hà. Vì thế, cần phải chế biến củ khoai lang để không những làm giảm sự hao hụt chất dinh dưỡng do bị hà và thối, mà còn làm tăng chất lượng chất dinh dưỡng trong quá trình bảo quản sau chế biến và sử dụng lâu dài, như sử dụng phương pháp ủ chua đã mang lại hiệu quả tốt.
Dây lá khoai lang: sử dụng làm rau xanh cho người và vật nuôi. Dây lá khoai lang cung cấp nguồn đạm, khoáng và Vitamin tốt cho lợn, nhưng lại bị thối nhanh, nhất là lúc thu hoạch gặp mưa. ủ chua hoặc phơi khô dây lá khoai lang là biện pháp chế biến và bảo quản tốt.
Nguyên liệu cho công nghiệp.chế biến
Chế biến nước giải khát không chứa cồn từ khoai lang, chế biển rượu, cồn...., dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm: làm bia, xirô, rượu, bánh kẹo ..., sản xuất hồ để hồ giấy, vải sợi. Trong dược phẩm khoai lang dùng để chế biến enzym amilaza, axit citric, dextrin và chế các sinh tố B1, B2, B12, A, C, Caroten…
1.4 Nguồn gốc vùng phân bố và phân loại cây khoai lang
1.4.1 Nguồn gốc vùng phân bố
Khoai lang có nguồn gốc ở Nam Mỹ khoảng 5.000 năm trước công nguyên. Dấu tích củ khô tồn tại lâu nhất được khám phá tại Caves của Chilca Canyon thuộc Peru (Engel, 1970). Người ta cũng tìm thấy sự hiện diện của khoai lang đầu tiên tại vùng Mayan của Trung Mỹ. Astin 1977 đã giả thuyết có hai trung tâm phát sinh nguồn gốc khoai lang tại Guatamala và nam Peru. Trong một số công trình khác cũng chỉ ra sự đa dạng loài khoai lang cao nhất ở Colombia, Equador và nam Peru.
Khoai lang được khám phá bởi Christophe Columbus trong cuộc thám hiểm tìm ra châu Mỹ năm 1492. Ông đã đưa nó vào Tây Ban Nha được gọi là khoai tây Tây Ban Nha hay khoai tây ngọt, mãi sau này mới gọi là khoai lang.
Lịch sử phát triển: khoai lang được mở rộng theo hai con đường: Con đường từ Tây Ban Nha giới thiệu vào châu Âu sau đó truyền tới châu Phi, vào Ấn Độ và Tây Ấn. Con đường khác do người Tây Ban Nha mang khoai lang từ vùng Trung Mỹ tới Philippines (Yen, 1982) vào khoảng năm 1521 (Obrien, 1972), sau đó tiếp tục đưa đến châu Phi (Cinklin,1963). Khoai lang được đưa về Trung Quốc từ Philippin và xuất hiện ờ Phúc Kiến năm 1594. Con đường khác vào Trung Quốc là do người Tây Ban Nha, đưa vào vùng Combatfami năm 1674. Một người Anh đưa vào Nhật năm 1615. Khoai lang được tiếp tục đưa vào Malaysia và các nước Nam Á, Đông Nam Á.
Cây khoai lang được đưa vào Việt Nam từ Luzon, Philippines vào cuối đời Minh ở thế kỷ 16 (Trần Văn Minh, 2008 dẫn tài liệu Thảo Mộc Trang năm 1756 của Lê Qúy Đôn). Cây khoai lang có tính thích ứng và đề kháng mạnh, trồng được ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau với thời gian sinh trưởng 3-5 tháng và không biểu hiện đặc tính thời vụ rõ rệt. Cây được trồng trong phạm vi rộng giữa vĩ tuyến 40 độ Bắc đến 40 độ Nam và lên tới độ cao 2.300 m so với mặt nước biển. (Đinh Thế Lộc 1996)
Ở các nước châu Mỹ Latin, khoai lang được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như batata, boniato, apichu, kumara... (Lewthwaite, 2004). Hiện nay, khoai lang được trồng khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Allemann et al., 2004; Truong et al., 2011; Nguyễn Công Tạn và ctv., 2014).
1.4.2 Phân loại cây khoai lang
. Khoai lang (Ipomoea batatas L) là cây 2 lá mầm; thuộc bộ Solanales, họ Bìm bìm Convolvovulaceae, chi Ipomoea, Chi phụ: Quamoclit; Phân chi: Batatas Loài: Ipomoea batatas. Họ Bìm bìm có 55 chi và khoảng 1650 loài, trong đó chi Ipomoea là chi lớn nhất với khoảng 600 loài (Austin, 1997). Ở Việt Nam có 13 chi và 76 loài (Lương Ngọc Toàn và csv, 1978). Cây khoai lang được phân loại trong chi Batatas. Hiện nay trong nội tộc phân chi Batatas có 13 loài hoang dại quan hệ với khoai lang.
Khoai lang là loại cây thân thảo, sống hàng năm, thân bò hoặc bò leo, hoa lưỡng tính, quả sóc, lá đơn mọc cách, lá đều đặn và chia thùy, có số nhiễm sắc thể 15 (n=15), là dạng lục bội thể (6x) tự nhiên quen thuộc nhất trong chi Batatas. Nó là loại lục bội duy nhất có khá năng tạo củ để làm lương thực. Trần Văn Minh 2008 đã trích dẫn tài liệu của Iting và Kehr 1953 nghiên cứu sự phân chia giảm nhiễm ờ các giống khoai lang của Mỹ và giả thuyết là khoai lang có nguồn gốc đa bội khác nguồn. Nó hình thành từ tổ hợp lai giữa một tứ bội thể với nhị bội, sau đó xảy ra quá trình phân đôi nhiễm sắc thể ở con lai bất dục. Nishiyama 1982 và Shiotani 1988 thì lại cho rằng khoai lang là một tứ bội củng nguồn, hình thành do sự đa bội hoá của loài lưỡng bội.
Các loài Ipomoea hoang dại có quan hệ gần gũi với chi Batatas (bảng 1.11)
Bảng 1.11 Các loài Ipomoea hoang dại có quan hệ gần gũi với chi Batatas
No comments:
Post a Comment