Chương 4
GIỐNG VÀ CẢI TIẾN GIỐNG KHOAI LANG
4.1 Chọn giống và cải tiến giống khoai lang .
4.3 Một số giống khoai lang chủ lực và mới
4.3 Quy phạm khảo nghiệm DUS và VCU giống khoai
lang .
(Hoàng Kim 2010)
4.1 Đặc điểm di truyền và phương pháp chọn tạo giống khoai lang
4.1.1 Đặc tính di truyền của cây khoai lang
Khoai lang có nhiễm sắc thể cơ bản n = 15, nhiễm sắc thể soma chi batatas thay đổi ở dạng lưỡng bội, tứ bội và lục bội; trong đó, khoai lang là thể lục bội tự nhiên duy nhất hình thành củ ăn được (2n = 6x = 90) (Truong và cs., 2011). Hiện nay, có hơn 7.000 giống khoai được ghi nhận trên thế giới; trong đó, số lượng giống cao sản là gần 2.000 giống và hơn 650 giống được canh tác phổ biên ở nhiều quốc gia, bao gồm 220 giống củ màu vàng, 185 giống củ màu kem, 143 giống củ màu cam, 64 giống củ màu tím, 25 giống củ màu trắng... (Hu et al., 2003; Truong và cs. ,2011).
4.1.2 Chọn tạo giống cây trồng
Tương tác gen với môi trường đóng vai trò quan trọng trong công tác chọn giống cây trồng, cho phép đánh giá một cách đầy đủ tính thích ứng, tính ổn định của cây trồng từ năm nay qua năm khác và những vùng xác định đòi hỏi sự thích ứng đặc biệt đã phân chia các điều kiện biến đổi môi trường khác nhau làm hai loại: có thể dự báo và không thể dự báo. Loại thứ nhất bao gồm tất cả các đặc điểm của môi trường mà sự dao động của các tác nhân có hệ thống như độ dài ngày. Nó cũng bao gồm các tác nhân của môi trường mà những yếu tố này được hình thành và xác định bởi các biện pháp kĩ thuật như thời vụ trồng, mật độ trồng, cách thu hoạch.
Mối tương tác rộng giữa kiểu gen và các yếu tố môi trường khác nhau là có tính đặc trưng. Tương tự như vậy, mối tương tác rộng giữa kiểu gen với biện pháp kĩ thuật canh tác như tương tác giữa kiểu gen và nền phân bón, thời vụ trồng đã chỉ ra rằng các nhân tố kĩ thuật đóng vai trò như là một môi trường đặc biệt (Anon, 1985).
Thu hạt lai và tiến hành theo dõi các tổ hợp lai đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá sự có mặt của mối tương tác kiểu gen môi trường trong việc đánh giá và hướng dẫn những thí nghiệm của quá trình chọn giống cây trồng. Nhiều dòng giống có tiềm năng được đánh giá trong các môi trường và thời vụ khác nhau trước khi chọn ra những giống mong muốn. Theo hướng chọn giống số lượng, chẳng hạn năng suất thì sự thể hiện liên quan kiểu gen khác nhau từ môi trường này đến môi trường khác. Điều này làm cho các nhà chọn giống khó quyết định nên chọn kiểu gen nào có thể thích hợp cho mỗi vùng sinh thái. Sự tồn tại mối tương tác giữa kiểu gen với môi trường có thể rút ngắn quá trình chọn lọc bởi ảnh hưởng của các gen lặn (Dixon, 1932).
4.1.3 Phương pháp chọn tạo giống khoai lang
Xem thêm Nguyễn Viết Hưng 2010. Trang 78
Trên thế giới, M. C Lean (1958) đã thu được một mức độ tuyệt hảo của ưu thế lai khi ông thụ phấn chéo giữa giống Maruland golden với dòng B219, kết quả thu được cây con P50 và P53 cho sản lượngng rất cao. Poole (1955) cũng phát hiện những cây sản lượng rất cao. Các dòng con cái phân ly do ông tạo nên, một cây cho bảy củ nặng 9,08 kg trồng một ha với sản lượng 9,08 kg/cây và mật độ 24.690 hom/ha sẽ đạt được 224 tấn củ tươi/ha quy ra 73,92 tấn chất khô.
Do bản chất là cây lục bội nên cây khoai lang có độ biến động cao về đặc tính di truyền, thể hiện rõ ở sự đa dạng về màu sắc, hình dạng, hàm lượng chất khô, tinh bột cũng như nhiều tính trạng khác. Bên cạnh đó, cây khoai lang có đặc tính tự bất hợp, hạn chế sự hình thành hạt nên cũng gặp một số trở ngại trong quá trình chọn tạo giống bằng hạt. Việc lai chéo và lai đảo thuận nghịch cũng được áp dụng để tạo những giống khoai lang mới (Lin et al., 2007).
Lai hữu tính khoai lang là phương pháp chủ yếu để tạo ra các biến dị di truyền và tái tổ hợp gen. Cây khoai lang mang đặc điểm của cả cây sinh sản hữu tính và vô tính. Hạt có thể thu được bằng cách lai giữa các giống hay các kiểu gen có các tính trạng ưu việt bằng thụ phấn tự do trong vườn đa giao hay thụ phấn tự do hoàn toàn. Mỗi cây con có đặc điểm di truyền khác với tất cả cây khác và đều có tiềm năng trở thành một giống mới. Do bản chất đa bội, sự biểu hiện và mức của các tính trạng là kết quả của của sự tái tổ hợp các gen và ưu thế lai. Tính tự bất hợp các ở khoai lang chứng tỏ tính dị hợp tử là cần thiết để duy trì sức sống và năng suất vì vậy các phương pháp chọn giống phải hướng vào việc tăng hay duy trì tính dị hợp tử và xem xét cả hiệu ứng di truyền cộng không cộng.
Hiện nay, nhiều quốc gia đẩy mạnh việc nghiên cứu về kỹ thuật canh tác và chọn tạo các giống khoai lang có năng suất và chất lượng cao để đưa vào sản xuất căn cứ vào nhu cầu chế biến lương thực, làm thức ăn gia súc, sản xuất tinh bột hay tiêu thụ tươi. Nghiên cứu về giống khoai lang tím được nhiều quốc gia quan tâm, điển hình như giống Yamagawamurasaki và Ayamurasaki - hai giống khoai lang tím có chứa nhiều anthocyanins đã được nghiên cứu nhằm gia tăng năng suất và chất lượng tại Nhật Bản (Montilla et al., 2011). Các giống khoai giàu anthocyanins đang được nghiên cứu tại nhiều quốc gia như dòng ST13 của Ấn Độ, các giống khoai MSU 01.017-16, MSU 01.022-12 và MSU 01.022-7 của Indonesia... (Nedunchezhiyan and Ray, 2010).
Một số nghiên cứu về việc xác định phương pháp ly trích thích hợp, cơ chế tổng hợp anthocyanins trong thịt củ, so sánh lượng anthocyanins trong các bộ phận của cây khoai lang ở dạng tươi và sau khi chế biến, biểu hiện của các genes tổng hợp enzymes giúp cho quá trình sinh tổng hợp anthocyanins...đã được công bố (Konczak-Islam et al., 2001; Kano et al., 2005; Yang và Gadi, 2008; Fan et al., 2008; Yeng et al., 2012; Truong et al., 2012).
Việc nghiên cứu các giống khoai lang ăn lá được quan tâm trong những năm gần đây vì trong dây khoai lang có nhiều chất biến dưỡng thứ cấp thiết yếu cho cơ thể con người như có tiền chất làm giảm bệnh tiểu đường do thúc đẩy khả năng tiết insulin tiêu hóa (Yoshimoto et al., 2005; Sivakumar et al., 2010; Truong et al., 2012). Trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, một số tác giả đã nghiên cứu những biến đổi sinh lý sinh hóa trong khoai lang khi bị ảnh hưởng của những điều kiện bất lợi của môi trường như hạn, mặn... (Zhang et al., 2004; Lin et al., 2006).
Theo Dumbuya và ctv (2014) đã nghiên cứu về chiều dài hom và tỷ lệ phân kali đối với sự sinh trưởng, năng suất của khoai lang Okumkom. Thí nghiệm gồm 3 chiều dài khác nhau (15, 22,5 và 30 cm) và liều lượng phân K2O (0, 60, 120, 180 kg/ha). Kết quả cho thấy, khi hom giống có độ dài 30 cm thì đạt năng suất cao nhất 28,80 tấn/ha và năng suất thấp nhất là 14,37 tấn/ha ứng với độ dài hom giống 15 cm. Liều lượng K2O sử dụng ở 60 kg/ha thì đạt năng suất cao nhất 36,91 tấn/ha, năng suất thấp nhất 11,85 tấn/ha khi liều lượng phân K2O là 180 kg/ha. Vì vậy, trồng khoai lang với hom giống dài 30 cm và 60 kg K2O là tốt nhất.
Một nghiên cứu khác của Getachew và ctv (2015) về ảnh hưởng của số lượng mắt và thời gian lưu trữ của hom giống đến sinh trưởng, năng suất của khoai lang tại Jimma, Tây Nam Ethiopia. Giống khoai lang Awassa - 83 được sử dụng. Thí nghiệm gồm các mắt khác nhau (5 mắt, 7 mắt, 9 mắt) và thời gian lưu trữ của hom (trồng ngay, trồng sau 2 ngày lưu trữ, trồng sau 4 ngày lưu trữ và trồng sau 6 ngày lưu trữ). Kết quả cho thấy 7 mắt và 9 mắt trồng sau 2 ngày lưu trữ cho năng suất cao nhất đạt 678,52 tấn/ha và 834,37 tấn/ha. Đối với 5 mắt, 7 mắt, và 9 mắt trồng sau 6 ngày lưu trữ cho năng suất thấp nhất đạt 430,86 tấn/ha, 431,29 tấn/ha và 500,98 tấn/ha. Vì vậy trồng khoai lang với 7 mắt, 9 mắt và sau 2 ngày lưu trữ là tốt nhất.
4.2 Chọn tạo giống khoai lang trên thế giới và Việt Nam
4.2.1 Chọn tạo giống khoai lang trên thế giới
Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa — CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.
Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.
Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.
Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trường dài trên 115 ngày
Hiện nay, các giống khoai lang tím đang được đầu tư nghiên cứu và phát triển do thịt củ chúa hàm lượng tinh bột, protein và các loại vitamins, amino acids, nhiều nguyên tố đa vi lượng, hàm lượng chất xơ cao, ít chất béo và cholesterol (Bovell-Benjamin, 2007; Rose and Vasanthakaalam, 2011; Mohan, 2011; Rukundo et al., 2013). Ngoài ra, anthocyanins và các hợp chất phenolics trong thành phần thịt củ khoai lang tím có nhiều hoạt tính sinh học quý như: khả năng chống oxy hóa cao, tăng cường sức đề kháng, có tác dụng làm bền thành mạch, chống viêm, hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư... (Terahara et al., 2004; Castaneda-Ovando et al., 2009; Cavalcanti et al., 2011; Truong et al., 2012; Wang et al., 2013). Tuy nhiên, các giống khoai lang tím lại có hàm lượng anthocyanins khác nhau do khác biệt về giống, kích thước, hình dạng củ, cấu trúc và màu sắc da thịt củ (Yoshinaga et al., 1999; Montilla et al., 2011; Truong et al., 2012). Chính vì thế, các nghiên cứu về chọn giống khoai lang tím có nhiều anthocyanins đang được quan tâm. Tại Nhật, những giống khoai lang có chứa nhiều anthocyanins đã được lai tạo và đưa vào canh tác (Montilla et al., 2011). Tại Việt Nam, giống khoai lang tím được canh tác với diện tích lớn là HL491, đây là giống có năng suất cao (trung bình khoảng 25 tấn/ha), phẩm chất tốt, phù hợp với mục đích xuất khẩu đang được đầu tư nghiên cứu nhằm gia tăng năng suất và phẩm chất (Nguyễn Xuân Lai, 2011; Nguyễn Thị Lang và ctv., 2013). Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về việc đánh giá phẩm chất các nguồn giống khoai lang tím thích hợp tại điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long.
4.2.2 Chọn tạo giống khoai lang ở Việt Nam
Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam hiện nay được lưu trữ và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (528 giống) , trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) chuyển đến (Bảng 4.1). 63 mẫu giống chọn lọc đã được đánh giá và tuyển chọn (Bảng 1.4). Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (118 mẫu giống), Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (78 mẫu giống), Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (30 mẫu giống). Trong nhiều năm qua, các đơn vị, trung tâm nghiên cứu đã tiến hành chọn tạo giống khoai lang bằng ba cách chính như thu thập, đánh giá, chọn tạo từ nguồn giống địa phương (1); nhập nội nhiều giống khoai lang, tiến hành nghiên cứu, khảo nghiệm và tuyển chọn để các giống khoai này phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của các vùng sinh thái ở nước ta (2); thiết lập chương trình lai tạo, đánh giá giống phù hợp với nhu cầu canh tác các giống khoai lang có năng suất và chất lượng cao (3).
Bảng 4.1 Hiện trạng nguồn gen khoai lang tại Việt Nam năm 2006
Bảng 1.4 Nguồn vật liệu giống khoai lang tại Trung tâm Hưng Lộc năm 2006
Mai Thạch Hoành (2011) đã công bố hiệu quả của việc nghiên cứu các dòng lai tổ hợp thuận nghịch trong chọn tạo giống khoai lang, theo tác giả đây là cách chọn giống mới bằng cách lai hữu tính theo tổ hợp lai cách ly. Hướng nghiên cứu các giống khoai lang ăn lá cũng được đẩy mạnh trong những năm gần đây, tiêu biểu là các giống khoai lang ăn lá KLR1, KLR3 và KLR5 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận và cho phép sản xuất thử từ tháng 10/2008 (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và ctv., 2008).
Bên cạnh việc thu thập, đánh giá và tuyển chọn các giống khoai lang có chất lượng và năng suất cao trong nước, việc tuyển chọn và đánh giá các giống khoai lang nhập nội cũng rất được chú trọng trong việc nghiên cứu chọn tạo giống khoai lang, đặc biệt làm phong phú thêm nguồn giống cho công tác lai tạo giống trong tương lai (Mai Thạch Hoành, 2012). Theo Mai Thạch Hoành (2012), sau khi tổng hợp các thí nghiệm liên tiếp trong 4 vụ từ năm 2008-2010 nhằm so sánh chất lượng của giống Hoàng Long (giống đối chứng trong nước) và 8 giống khoai lang nhập nội từ dự án DAI 5 (được nhân giống từ Hà Tây và Viện Di truyền Nông nghiệp), kết quả cho thấy ba giống có năng suất củ tươi cao nhất là HD085 (18,01 tấn củ/ha), KV85 (16,19 tấn củ/ha) và KLDT2 (15,78 tấn củ/ha) so với năng suất khoảng 13,6 tấn của giống đối chứng Hoàng Long. Tại Thái Nguyên, Lê Thị Kiều Oanh và ctv. (2014) đã sưu tập, đánh giá và tuyển chọn một số giống khoai lang đang canh tác tại địa phương về đặc tính thực vật, khả năng sinh trưởng, sức chống chịu sâu bệnh, năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng củ khoai lang của các giống để có bước sơ bộ trong quá trình sưu tập và tuyển chọn giống tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, trong điều kiện canh tác đồng nhất, các giống khoai lang có đặc tính thực vật và sinh trưởng đa dạng tùy theo đặc tính giống; hiện tượng sâu bệnh đều xuất hiện trên các giống trồng, trong đó các giống bị sâu bệnh ảnh hưởng nặng là Nhật Tím, Nhật Trắng, KĐ1 và Hoàng Long; số củ hình thành trên dây dao động khoảng 2,6-6,4 củ hên gốc với đường tính củ dao động khoảng 3,37-6,37 cm; ngoại trừ giống KL5 gần như không có củ, các giống khác có năng suất dao động trong khoảng 0,6-12,5 tấn/ha, trong đó giống khoai lang tím Nhật có năng suất khoảng 9,6 tấn/ha, và giống Hoàng Long tím có năng suất khoảng 7,1 tấn/ha.
Trong những năm gần đây, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã nghiên cứu, đánh giá và tuyển chọn một số giống khoai lang chịu mặn. Viện đã đánh giá nhanh khả năng chống chịu mặn của các giống khoai lang (khoảng 530 giống) đang được bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật. Sau khi đánh giá tính chịu mặn trong phòng thí nghiệm, các giống được đưa ra trồng thử nghiệm tại khu vực tự nhiên có nhiễm mặn. Theo Nguyễn Văn Kiên và ctv. (2012), Viện đã chọn được 6 giống trong số 30 giống trồng thử nghiệm có khả năng chống chịu mặn và được phân loại thành 2 nhóm chính dựa vào sự khác biệt đặc tính thân và lá. Trong điều kiện đất nhiễm mặn tại Hậu Lộc, Thanh Hóa, khả năng sống của 6 giống là khoảng 95-97%. Trong đó, hai giống thể hiện tốt nhất là giống khoai cao sản (năng suất củ khoảng 13,9 tấn/ha) và giống khoai Voi (năng suất củ khoảng 14,7 tấn/ha), phù hợp với nồng độ muối trong đất đo được ở thời điểm trồng và thu hoạch là 0,16 và 0,22%.
Nguyễn Thế Yên và Đỗ Thị Thu Trang (2012) đã công bố kết quả nghiên cứu chọn tạo giống khoai lang có chất lượng và cách sử dụng 94 nguồn giống do Trung tâm Khoai tây Quốc tế cung cấp từ năm 2002-2007, các nguồn giống địa phương và nguồn giống do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm để tiến hành thực nghiệm trên nhiều tỉnh thành ở phía Bắc và miền Trung Việt Nam để chọn lọc được 9 giống ưu tú theo hướng đa dụng, năng suất và phẩm chất cao, phù họp với điều kiện của điều kiện từng vùng. Các giống tiếp tục tiến hành sản xuất và đánh giá tại các tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam trong khoảng 2008-2010, trong đó nổi trội là giống KLC266 có tính ổn định về năng suất trong các điều kiện môi trường thí nghiệm khác nhau. Đây là giống khoai lang ruột vàng chất lượng cao (bở, ngọt, thơm), thích ứng với nhiều điều kiện canh tác, cho năng suất thân lá tốt và năng suất củ khoảng 15-16 tấn/ha. Hiện nay, giống KLC266 đang được canh tác ở nhiều tỉnh thành.
Theo Nguyễn Xuân Lai (2011), sau khi so sánh với nhiều giống khoai lang khác, giống khoai lang tím HL491 thể hiện năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với điều kiện huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
4.3 Một số giống khoai lang chủ lực và giống mới
4.3.1 Những giống khoai lang hiện trồng phổ biến ở Thế giới
Trung Quốc là nước có năng suất và sản lượng khoai lang đứng đầu thế giới, Theo FAO 2008 với diện tích là 3,68 triệu ha, năng suất đạt 23,12 tấn/ha, sản lượng đạt (85,21 triệu tấn). Các giống khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam. Viện II TA (1985) ở Nigeria cũng phóng thích ra nhiều giống khoai lang tốt, đã tìm ra những giống có thời gian sinh trưởng 140 ngày đạt năng suất 21 – 41 tấn trong điều kiện không phân bón như giống khoai lang vỏ đỏ TIS 2498 năng suất 36,7 tấn/ha, giống khoai lang vỏ trắng TIS 9265 năng suất 41,1 tấn/ha, ít bị nhiễm sùng.
Ấn Độ có năm giống khoai lang tốt được công nhận quốc gia: Sree, Nandini (76 OP219), Sree vardhini (76 OP219), HL41, HL42, HL268 (ISOTUC 1993).
Indonesia là nước trồng khoai lang đứng hàng thứ ba trên thế giới sau Trung Quốc và Việt Nam, có ba giống được phóng thích trong những năm gần đây là N73-6, TIS 1487, TIS2353 đạt năng suất từ 42,3 - 57,8 tấn củ/ha. Banglades gần đây giới thiệu hai giống triển vọng là Do, D53 năng suất đạt 35 tấn/ha.
Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẻo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm, ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.
Ở Nhật có bốn giống khoai lang vừa cho năng suất cao vừa cho phẩm chất ngon là: Kokey 14 (Nhật vàng), Murasa Kimasari (Nhật tím), Norin 37 và Norin 41. Khoai lang Nhật nổi tiếng rất ngon để làm thực phẩm, làm nước sinh tố hoặc làm rau xanh vì có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên, hương vị thơm, hợp khẩu vị Việt. Hai giống khoai lang Nhật được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là Kokey 14 (Nhật vàng), Murasa Kimasari (Nhật tím). Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày. Hai giống HL518 (Nhật đỏ) và HL491 (Nhật tím 2) đã phát triển trên nền di truyền này (Hoàng Kim 2010).
4.3.2 Những giống khoai lang hiện trồng phổ biến ở Việt Nam
4.3.2.1 Giống khoai lang tốt hiện nay ở Việt Nam
Mức độ phổ biến của các giống khoai lang tùy thuộc vùng sinh thái. Những giống khoai lang phổ biến ở các tỉnh phía Bắc có Hoàng Long, KB1, K51 Tự Nhiên, ở các tỉnh phía Nam hiện trồng phổ biến HL4, Kokey 14, HL491, HL518, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa.
Ở miền Nam, lai hữu tính khoai lang được Lê Xuân Hoa thực hiện đầu tiên tại Trung tâm Thực nghiệm Eakmart (Buôn Ma Thuộc) từ năm 1966 và thu được ba dòng 66E09, 66E10, 66E18 năng suất hơn 12 tấn/ha gấp rưỡi đối chứng. Năm 1968 cũng ở Trung tâm này đã nhập cảng 1200 hạt lai từ Đài Loan và tuyển lựa nhiều năm tiếp sau. Các kết quả công bố năm 1970- 1972 cho biết có những dòng đạt tới năng suất hơn 12 tấn/ha như 68E027, 68E092, 68E121. Đặc biệt dòng 68E027 rất kháng sâu sùng có tỉ lệ sấy khô 42,5% và năng suất củ tươi đạt đến 31,6 tấn/ha. Sau ngày đất nước thống Nhất, Hoàng Kim Nguyễn Thị Thủy đã thu thập nguồn gen 120 giống khoai lang ở Việt Nam, tuyển chọn và giới thiệu bốn giống tốt được công nhận quốc gia là Hoàng Long, Chiêm Dâu, Bí Đà Lạt, Khoai Gạo (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy 1981). Sau đó đã lai hữu tính và phổ biến các giống tốt là HL4 con lai của (Bí Đà Lạt x Khoai Gạo) x Tai Nung 57 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987); HL518 (từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518), HL491 (từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997) được trồng rộng rãi trong sản xuất hiện nay.
Ở miền Bắc, Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn vả giới thiệu 15 giống khoai lang tốt gỗm: K2, K4, KL143, KL1, Kl, K3, K7, VX37-1, Cực nhanh (nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông); KL5, K51 (nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi); Hoàng Long, Chiêm Dâu (1986), Tự Nhiên (1999), KB1 (2004) (nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon). Trong năm 2001- 2005, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã nghiên cứu chọn tạo nhiều giống có năng suất và chất lượng cao như: KB1, TV1, H1.2, KB4, TQ1... (Tạ Minh Sơn và ctv., 2006; Nguyễn Xuân Lai, 2011).
Theo Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2005), trong số khoảng 20 giống khoai lang được trồng chủ yếu tại Việt Nam, một số giống có năng suất khá cao khoảng 10-30 tấn/ha và phẩm chất tốt như: giống Hoàng Long (vỏ hồng, thịt củ vàng cam), có năng suất đạt khoảng 15-27 tấn/ha; giống khoai lang Nhật Bản Benizuma (vỏ đỏ, ruột vàng) có chất lượng cao, năng suất từ 12-18 tấn/ha; giống khoai lang Nhật đỏ HL518 (vỏ đỏ đậm, ruột màu cam), năng suất đạt khoảng 17-32 tấn/ha; giống khoai lang Nhật tím l(Murasakimasari) (vỏ tím đậm, ruột màu tím đậm), năng suất đạt khoảng 10-22 tấn/ha; giống khoai lang Nhật tím (HL491) (vỏ tím, ruột màu tím đậm), năng suất đạt khoảng 15-27 tấn/ha…
Các trung tâm nghiên cứu về khoai lang trong nước như Trung tâm Tài nguyên Thực vật, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Hưng Lộc đã tuyển chọn và đưa ra sản xuất nhiều giống khoai lang có năng suất và chất lượng cao như: Bí Đà Lạt (1981), Hoàng Long, Chiêm Dâu, HL4 (1987), HL491, HL518 (1997).... Ngoài ra, hai trung tâm cũng đầu tư nghiên cứu nhằm thu thập, đánh giá và phục tráng một số giống khoai lang có chất lượng cao như HL518, HL491, HL284, giống cao sản HL574... Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đã tuyển chọn và phục tráng nhiều giống khoai lang có chất lượng (Hoàng Kim, 2009; Nguyễn Thị Lang, 2014).
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, một số giống khoai lang có chất lượng tốt phù hợp với điều kiện của vùng như giống KLT HL491, khoai lang sữa, trắng, khoai lang Hồng Đào... do có năng suất và phẩm chất tốt (Châu Thị Anh Thy và ctv., 2005; Đào Xuân Tùng, 2010). Theo Nguyễn Xuân Lai (2011), giống KLT HL491 được trồng hơn 70% diện tích canh tác của vùng Đồng bằng sông Cửu Long do có năng suất cao (trên 25 tấn/ha), phẩm chất tốt, phù hợp với mục đích xuất khẩu. Ngoài ra, giống khoai lang sữa cũng đang được đánh giá là giống củ có năng suất cao, tỷ lệ tinh bột cao, thơm ngon... (Đào Xuân Tùng, 2010). Trong số các giống khoai được thu thập và tuyển chọn của Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, giống khoai tím OMKL8 (vỏ và ruột tím) có năng suất khá, đạt khoảng 10,8 t/ha và có tỷ lệ củ thương phẩm đạt khoảng 74,3% khi canh tác tại một so xã ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long (Nguyễn Thị Lang và ctv., 2013).
gốc và một số đặc tính chủ yếu
- HOÀNG LONG là giống khoai lang phổ biến ở Bắc Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 -27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27- 30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.
- HƯNG LỘC 4 (HL4) HL4 là giống khoai lang phổ biến ờ vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo X Bí Dalat] X Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18-33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phù luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.
- KOKEY14 (Nhật đỏ) hiện được bán nhiều tại các siêu thị thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn gốc: Nhật Bản. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm rộng năm 2002. Thời gian sinh trường 110-120 ngày. Năng suất củ tươi 15 -34 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 29-31%, chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây nhẹ.
- MURASAKIMASARI (Nhật tím) hiện được bán tại các siêu thị thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn gốc: Nhật Bản. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm rộng năm 2002. Thời gian sinh trưởng 110-120 ngày. Năng suất củ tươi 10-22 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây nhẹ.
- HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc: AVRDC (Đài Loan). Giống do Trung tâm Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18-29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.
- CIP063-2 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc: Trung tâm Khoai tây Quốc tế CIP (Peru). Giống do Trung tâm Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2002. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 14-31 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 29-32%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.
- XUSHU 18 (CIP 440025; No 8) là giống khoai lang rất phổ biến ở Trung Quốc, đặc biệt ở vùng Sơn Đông và Giang Tô với quy mô trồng trên 837.000 ha (Keith O.Fuglie 2005). Giống được phóng thích năm 1982. Thời gian sinh trưởng trong vụ Hè Thu và Thu Đông ở Nam Bộ khoảng 95-100 ngày. Năng suất củ tươi 20 - 35 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27- 30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu trắng, dạng củ đẹp, dây xanh sinh trưởng khoẻ, nhiễm sùng và sâu đục dây ở mức trung bình.
- KB1 là giống khoai lang mới, hiện dạng phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 - 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.
Câu 15: Giống khoai lang chủ lực quốc gia là?
ReplyDeleteA. Hoàng Long
B. Chiêm Dâu
C. Cả hai đều đúng
D. Cả hai đề sai
Đáp án: C
Câu 16: Nguồn gốc khoai lang Hưng Lộc 4 ở quốc gia nào?
ReplyDeleteA. Việt Nam
B. Lào
C. Trung Quốc
D. Nhật
Đáp án: A
Câu 17: Các giống khoai lang triển vọng ở Việt Nam
ReplyDeleteA. Nhật tím
B. Nhật trắng
C. KB1
D. Tất cả đều đúng
Đáp án: D
Câu 20: Tại sao cần tạo giống khoai lang lai?
ReplyDeleteA. Đa dạng sản phẩm
B. Tạo giống khoai lang ngon
C. Tăng thu nhập
D. Tất cả đều đúng
Đáp án: D
Câu 22: Năng suất của giống khoai lang lai Hưng Lộc 4 là bao nhiêu?
ReplyDeleteA. 5 – 10 tấn/ha
B. 10 – 15 tấn/ha
C. 18 – 33 tấn/ha
D. 40 – 60 tấn/ha
Đáp án: C
Câu 23: Phương pháp nào sau đây không phải là phương pháp nhân giống vô tính khoai lang?
ReplyDeleteA. Nhân giống bằng củ
B. Nhân giống bằng dây
C. Nuôi cấy mô
D. Ghép cành
Đáp án: D