Chương 3
KHÍ
HẬU VÀ ĐẤT KHOAI LANG
3.1 Khí hậu: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, gió, nguồn nước
3.2 Đất khoai lang Việt Nam sự phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng khoai lang và vụ khoai lang chính ở Việt Nam .
3.1 Khí hậu: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, gió, nguồn nước
(Hoàng Kim 2010)
3.1.1 Ánh sáng
Khoai lang có nguồn gốc nhiệt đới nên phản ứng ánh sáng ngày ngắn. Thời gian chiếu sáng thích hợp trong ngày là 8-10 giờ. Trong điều kiện ngày dài hơn khoai lang vẫn có thể sinh trường được, nhưng ảnh hưởng đến quá trình phát dục của hoa.
Khoai lang sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện có cường độ chiếu sáng cao. Khoai lang ra hoa trong điều kiện ngày ngắn đêm dài vào mùa đông và đầu xuân ờ các vùng ôn đới. Ngày dài và đêm ngắn sẽ thúc đẩy sinh trưởng dây lá hơn là củ và ngược lại.
Thân khoai lang chủ yếu ờ dạng bò, số lá nhiều thường xẩy ra hiện tượng là bị che khuất lẫn nhau và hình thành tầng rời ở gốc cuống lá gắn với thân nên khoai lang dễ bị rụng lá khi các lá dưới bị che khuất ánh sáng. Hệ số sử dụng ánh sáng thấp thường chỉ đạt được 0,76-1,28%.
Ở Việt Nam khoai lang trồng vu Đông Xuân có tưới tại các tỉnh duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long có điều kiện ánh sáng tốt, thâm canh cao và đủ ẩm , khoai dễ đạt năng suất cao.
3.1.2 Nhiệt độ
Hartner và Whitney trồng giống khoai lang Yellovv jersey trên đất cát được giữ ở các nhiệt độ khác nhau từ 10 - 45,5°C. Tại các thang nhiệt độ đã ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng và năng suất. Ở nhiệt độ 10°C lá chuyển màu vàng rồi chết. Nhiệt độ 15°C lá có màu xanh nhưng cây không lớn; Nhiệt độ 20 - 35°C cây sinh trưởng nhanh và tỷ lệ thuận với nhiệt độ; Nhiệt độ 45°C cây ngừng sinh trưởng.
Ở Việt Nam nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng thân lá và củ khoai lang là 20 - 30°C, nhiệt độ không khí trung bình 15°C vẫn có thể trồng khoai lang được nhưng sự ra rễ và mọc mầm chậm, nhiệt độ dưới 10°C trồng khoai lang bị chết úa. Trong thời kỳ ra rễ và mọc mầm nếu có nhiệt độ thích hợp, đủ nước và dinh dưỡng thì cây khoai lang sinh trưởng và phát triển tốt, hình thành củ sớm tượng tầng hoạt động mạnh và vận chuyển chất hữu cơ có tốc độ nhanh, lợi cho năng suất củ. Trong thời kỳ phình to của củ nếu nhiệt độ cao vừa phải 27 - 30°C, biên độ nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch lớn (như khoai lang trồng vụ Thu Đông ờ vùng Đông Nam Bộ hoặc vụ khoai Đông Xuân các tỉnh Trung Bộ) thì khoai lang dễ đạt năng suất cao.
3.1.3 Nước
Khoai lang có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng khối lượng chất hữu cơ hình thành lớn, nên cần nhiều nước. Khoai lang là cây trồng sinh trưởng chủ yếu dựa vào nước do thiên nhiên, ngoại trừ một số vùng có hệ thống tưới tiêu cho đất màu.
Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau yêu cầu nước khác nhau: Thời kỳ mọc mầm ra rễ và thời kỳ phân cành kết củ cần lượng nước không cao bằng thời kỳ phát triển thân lá. Âm độ thích hợp là 70-75%; tuy vậy trong 40 ngày đầu của quá trình sinh trưởng nếu thiếu nước sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng do rễ con vươn dài tìm nước ở tầng đất sâu nên không phân hóa thành rễ củ được. Thời kỳ phát triển thân lá, nhu cầu nước tăng lên và có sự khác nhau giữa mục đích lấy lá và lấy củ. Đối với lấy củ, ẩm độ thích hợp 75-80%, lấy dây lá 80-90%. Giai đoạn làm củ, cây cần nước và ẩm độ thích hợp là 65- 80 %, nhưng không chịu được lượng nước trên 90 % độ ẩm đồng ruộng tối đa. Nếu mưa nhiều, thân lá khoai lang sinh trưởng tốt nhưng củ rất kém, tỷ lệ nước nhiều ăn khoai nhạt và ít bờ. Ngược lại, đất quá khô thì năng suất dây lá và cũ đều kém.
Ở nước ta, với các mùa vụ khác nhau thì khả năng cung cấp nước cho khoai lang là khác nhau và năng suất cũng rất khác nhau. Vụ Hè Thu ở Nam Bộ: lượng mưa quá lớn, trồng khoai chủ yếu chỉ để lấy dây lá chăn nuôi và làm hom giống cho vụ Thu Đông là vụ chính trên đất rẫy cao. Trong vụ Thu Đông thu hoạch khoai lang vào cuối tháng 10, cây sinh trưởng phát triển tốt trong mùa mưa và thu hoạch đầu mùa khô lúc biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn nên năng suất và phẩm chất củ cao.
Trên đất xám ruộng lúa chủ động tưới, trồng khoai lang vụ Đông Xuân ở các tỉnh phía Nam cũng dễ đạt năng suất cao.
3.1.4 Đất và nhu cầu dinh dưỡng của cây khoai lang
Đất trồng khoai lang thích hợp nhất là đất cát pha hoặc đất phù sa ngọt ven sông suối có dinh dưỡng khá và thành phần cơ giới nhẹ. Trồng trên đất này, khoai lang năng suất cao, củ cỏ nhiều tinh bột và ăn ngon.
Khoai lang ít kén đất, có thể trồng trong một phạm vi biến động lớn của đất từ cát nhẹ đến sét vừa. Cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất trên đất tơi xốp và nhẹ, tầng đất mặt sâu, dãi nắng, dễ thoát nước khi mưa nhiều,. Khoai lang thích đất hơi chua và gần trung tính, nhưng chịu được đất chua hơn đất kiềm, pH từ 4,2 đến 7,5, ngoại trừ đất úng nước hoặc đất có hàm lượng muối cao. Rễ khoai lang thích đất thoáng nhưng giữ ẩm tốt. Đất mặn, phù sa, đất bạc màu nếu chăm sóc tốt khoai lang vẫn cho năng suất cao. Trên đất cát trắng bón nhiều phân chuồng phân xanh vẫn cho năng suất khá
Đặc điểm dinh dưỡng khoáng của khoai lang
3.2 Những vùng trồng khoai lang và vụ khoai lang chính ở Việt Nam
3.3 Hệ thống canh tác khoai lang ở Việt Nam
Đất trồng khoai lang chủ yếu là đất xám bạc màu nghèo dinh dưỡng, không chủ động nước tưới của vụ Đông và vụ Đông Xuân trong cơ cấu luân canh với lúa. Năng suất khoai lang đạt được cao nhất 17-30 tấn/ha ở đất phù sa được bồi ven sông Tiền, sông Hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long, kế đến là vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Nguyên đạt 8-20 tấn/ha, những nơi khác năng suất khoai lang đạt thấp. Diện tích và sản lượng khoai lang Việt Nam có chiều hướng giảm trong những năm gần đây. Nguyên nhân chủ yếu là do: thiếu chế biến và thị trường tiêu thụ, giống tạp lẫn và thoái hóa; đất trồng khoai thường nghèo dinh dưỡng, sự gây hại của sùng (Cylas formicarius) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis), khoai lang ít lợi thế cạnh tranh nên chưa được quan tâm đúng mức trong nghiên cứu phát triển. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trương duy trì diện tích khoai lang Việt Nam 180 - 200 nghìn ha, năng suất 12-15 tấn/ha áp dụng giống mới năng suất cao, chất lượng tốt và quy trình kỹ thuật thâm canh, luân canh, áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất và chế biến (Hoàng Kim, 2010).
No comments:
Post a Comment